Một năm chạy mỏi chân (Phần 2)

  1. Tìm kiếm và sản phẩm Việt Nam

Một nhà nữ doanh nghiệp người Cameroun áo hoa sặc sỡ đi như chạy giữa các gian hàng của Diễn đàn Doanh nghiệp Pháp ngữ (FFA) tổ chức tại TP. HCM. Ba đang tìm cách rút ngắn con đường đưa gạo của VN sang thị trường châu Phi, bởi giá qua các công ty trung gian thường cao hơn. Cũng như Cameroun, Senegal và Cộng hòa Maurice tìm mua gạo VN; Congo tìm cách hợp tác với VN chế tạo nông cụ; Nigeria hỏi cách nhập công nghệ chế biến gạch của VN… Cái khó nhất trong việc làm ăn giữa châu Phi và VN là chưa có ngân hàng bảo đảm cho việc mở tín dụng thư. Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã nói rằng, các nhà lãnh đạo cộng đồng Pháp ngữ sẽ tạo điều kiện cho các công ty khối Pháp ngữ làm ăn thuận lợi hơn. Ông nói hội nghi cấp cao Hà Nội lần đầu tiên khơi đúng mạch của cộng đồng: cùng hợp lực để phát triển kinh tế!

Không chỉ châu Phi mà cả Trung Đông cũng tìm đến với công nghệ của VN. Trong chuyến thăm VN của Phó thủ tướng Iraq Mohammed Zubeidi, Iraq đề nghị dành 10.000ha đất tại nước này để hai bên lập liên doanh trồng lúa với kỹ thuật do VN đảm trách. Bên cạnh đó hai bên lập liên doanh trồng bông, tra và khai thác dầu khí… tại Iraq và VN. Ông Zubeidi tỏ ra rất lạc quan về những dự án trên.

  1. Bà Ngoại trưởng, Luật Bản quyền và vị luật sư

Cuộc dạo chơi ngắn hồi tháng 6/1997 của bà Ngoại trưởng Mỹ Madeleine Albright ở chợ Bến Thành (TP. HCM) thật thú vị. Đại sứ Mỹ tại VN Douglas Peterson làm hướng dẫn viên mời bà ghé vào hàng ăn, quán chè, rồi quầy hàng lưu niệm. Bà Albright cũng biết trả giá với người bán hàng về tấm khăn quàng, hộp sơn mài có hình ba thiếu nữ. Bà nói: “Dành cho ba cô con gái và những bà bạn của tôi đấy!”.

Buổi đi chợ có ấn tượng. Sau đó, bà đã hóm hỉnh nói chuyện với các nhà báo và đại diện các doan nghiệp: “Tôi định nói “Chào!” với một số người bán hàng, nhưng tôi chợt nghĩ mình vừa ký hiệp định bảo vệ tác quyền ở Hà Nội, nên đành phải nói Good morning”.  Việt Nam và Mỹ đã ký hiệp định tác quyền (hiệp định sẽ có hiệu lực kể từ tháng 1/98). Trong tương lai, hai bên sẽ ký nhiều hiệp định khác nữa. Hệ thống pháp luật Mỹ vốn chằng chịt và phức tạp, vì thế, theo lời Đại sứ VN tại Mỹ Lê Văn Bằng: “Làm ăn với Mỹ, các công ty VN nên nghĩ đến chuyện thuê mướn luật sư Mỹ”. Đại sứ cũng nhắc rằng, về lâu dài, các công ty VN cần có đội ngũ nhân viên am tường luật pháp Mỹ.

Năm 1998 đang trước mặt. Chúng ta vẫn sẽ tiếp tục chạy mỏi chân, nhưng lần này đã có kinh nghiệm đường trường và dai sức hơn. VN tiếp tục đón những vị khách mới và tiếp tục thâm nhập sâu hơn vào cộng đồng quốc tế. Hà Nội sẽ lại là nơi đón các vị nguyên thủ dự hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ VI. Một quan chức ngoại giao VN nói, công việc chuẩn bị này ngốn hết thời gian cả năm, tuy mất ít thời gian chuẩn bị so với hội nghị Pháp ngữ (gần hai năm) nhưng công việc sẽ nặng hơn. Rồi lại còn tham gia Diễn dàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) với tư cách thành viên chinh thức…

Thời trang VN đã tạo nên dấu ấn đẹp tại các cuộc thi thiết kế và biểu diễn ở Nhật, Singapore, Philippines… trong năm qua. Có thể mượn hình ảnh thời trang để nói về ngoại giao VN năm 1998. Vâng, VN sẽ đến với cộng đồng với tư cách là một người thiết kế luật chơi, theo cách nói của nhà nữ ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh, hoặc là một người tạo mốt đúng điệu, theo cái tứ của Thứ trướng Ngoại giao Vũ Khoan đã nói.

Hồ Nguyên Thảo – Báo Phụ Nữ Xuân Mậu Dần 1998

Một năm chạy mỏi chân (Phần 1)

“Một năm chạy mỏi chân!”. Vẫn câu nói ấy để tổng kết cho một năm 1997 đầy sôi động của ngoại giao VN. Hội nghị cấp cao lần thứ VII các nước có sử dụng tiếng Pháp với sự tham gia của 49 thành viên trong khối đã thành công tốt đẹp tại Hà Nội, VN và Mỹ ký hiệp định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và hiệp định OPIC (Công ty Bảo hiểm Đầu tư Tư nhân ở hải ngoại) – những hiệp định nền cho việc làm ăn giữa hai bên, VN đươc chấp nhận làm thành viên của Diễn dàn Hơp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC)… Những câu chuyện bên lề của một năm cũ sẽ dự báo gì cho một năm mới 1998?

  1. Mốt Việt Nam tại châu Mỹ La-tinh

“VN bây giờ là mốt ở châu Mỹ La-tinh”. Thứ trường Ngoại giao Vũ Khoan đã nói vui với hội nghị công tác ngoại vụ các tỉnh phía Nam như thế, vào tháng 3/97 vừa rồi. Ông nói sau chuyến thăm VN của Tổng thống Argentina Carlos Menem với nhiều hiệp định kinh tế được ký kết, các nước châu Mỹ La-tinh lập tức hướng tầm nhìn của họ về VN. Bộ Ngoại giao các nước Brazil, Chile và Ecuador cử người tiếp xúc với sứ quán VN, nhằm chuẩn bị cho chuyến thăm của các nhà lãnh đạo của họ. Ngay cả Tổng thống Peru Alberto Fujimori vào lúc đó dù phải lo đối phó với khủng hoảng con tin, cũng bày tỏ ý muốn sớm đến thăm VN (sau đó, chuyến thăm trong năm nay đã hoãn lại vì lý do riêng của phía bạn).

Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Khoan cười sảng khoái: “Các công ty trong nước phải chuẩn bị để đón thời cơ làm ăn chứ. Bộ Ngoại giao VN với 60 cơ quan đại diện ngoại giao ở khắp nơi, sẽ không chỉ phục vụ thông tin cho việc làm ăn ở châu Mỹ La-tinh, mà nhiều nơi trên thế giới nữa”.

  1. Bài diễn văn tiếng Pháp và “một hội nghị tuyệt vời”

Chủ tịch UBND TP. HCM Võ Viết Thạnh đã đọc bài diễn văn bằng tiếng Pháp để chào mừng Tổng thống Pháp Jacques Chirac đến thăm thành phố. Bài diễn văn kết thúc, Tổng thống Chirac nói ông rất cảm kích trước tình hữu nghị và thiện chí của chủ nhà! Tại Hà Nội, một lần nữa Tổng thống Chirac lại hiểu thiện chí đó hơn, khi bài diễn văn khai mạc hội nghị Pháp ngữ của Chủ tịch nước Trần Đức Lương được chính Chủ tịch trình bày bằng tiếng Pháp.

Tiếng cói hụ, những đoàn mô tô phóng nhanh dẹp đường cho các đoàn xe của các vị nguyên thủ các nước… Hà Nội tắc đường trong những ngày diễn ra hội nghị, nhịp sống người dân bị xáo trộn. Tổng thống Chirac đã xin lỗi người dân Hà thành về những xáo trộn đó và cảm ơn VN đã tổ chức “một hội nghị thành công tuyệt vời”.

Hồ Nguyên Thảo – Báo Phụ Nữ Xuân Mậu Dần 1998

Phỏng vấn chợ Bến Thành (Phần 2)

* Ví dụ?

– Ví dụ như dịp kỷ niệm này, tất cả chúng ta nên nhìn lại. Cái gì tự hào để riêng ra, cái gì chưa tự hào cũng để riêng ra. Và làm việc, ngay từ bây giờ, kẻo tới ngày 500 hoặc 600 năm TP lại nhô lên mấy trăm khách sạn, mấy ngàn sân tennis, vài vạn quán cà phê… Và nhỡ đâu chỉ thế thôi!

* Khoan… Ở Paris có những quán cà phê nổi tiếng hơn tòa thị chính.

– Đúng. Và không phải vì do uống mà vì những vĩ nhân đã đến uống… Chà, nếu cứ lý luận dễ dãi như nhà báo thì nếu tôi có mệnh hệ nào, người ta sẽ cử quán cơm Cả Đọi thay tôi làm biểu tượng.

* Ngài ơi. “Nếu chúng ta bắn vào quá khứ bắng súng lục…”.

– Mà làm cho tương lai nổ như đại bác thì đôi khi cũng nên vừa chảy nước mắt vừa bóp cò.

* Còn gì nữa, thưa ngài?

– Còn. Nếu xét theo một khía cạnh khác, TP sẽ đổi mới từ năm 301 trở đi. Nếu không có sự chiêm nghiệm ngay từ hôm nay, vài thế kỷ sau e phải chiêm nghiệm lại.

* Mới vài chục tuổi như ngài mà đã định dạy người ta chiêm nghiệm, e rằng hơi vội…

– A, xin quý báo chỉ cho tôi một di tích nào nổi tiếng đỡ trẻ hơn.

* Tôi kể ngay đây: một là…

– Từ từ. Hai là… Ba là… Khó mà có thể tới năm là. Và vài thứ trong đó phải mở sách ra mới biết, trong khi, lạy Chúa, tháp Eiffel chỉ cần mở mắt ra sẽ thấy ngay.

* Mọi sự so sánh đều khập khiễng.

– Ừ, nhưng mọi sự chẳng so sánh đều không phải là việc của người làm khoa học. Mà cái thành phố thân yêu này cần những nhà khoa học biết bao. Một ngày vui chỉ cần có mặt họ hàng. Nhưng 300 năm muốn vui phải đủ mặt trí thức.

* Xin ngài chớ cầu toàn. Đối với một đất nước 4.000 năm, TP ta 300 năm chỉ như một đứa trẻ đang ngồi dậy.

– Đồng ý, nhưng tôi muốn 1998 không phải chỉ là lễ thôi nôi, và quan khách chỉ mang tới sữa, đường, khăn bông và bánh kẹo.

Cái gì làm nên nhân cách của đứa bé ấy: quần áo nó mặc, thức ăn nó ăn hay đồ chơi nó chơi? Quan trọng nhất là văn hóa mà nó có, và sau đó là những gì nó làm ra từ văn hóa ấy.

* Ngài ơi, đã sắp sang thế kỷ 21 rồi, ở thế kỷ này không thể xây một đền Ăngko nữa.

– Tôi biết. Hãy xây thư viện, xây nhà hát, xây rạp chiếu bóng, sân bay… Nhưng hãy xây thế nào để từ trong đó bước ra cả người của 4.000 năm trước lẫn người của 4.000 năm sau.

* Trời ơi. Tới buổi kỷ niệm đó, tôi sẽ mời ngài đọc diễn văn.

– Tôi đọc làm gì, tôi chỉ nhắc lại câu nói của Mác thôi: “Rất nhiều người nghiên cứu lịch sử, nhưng điều quan trọng là phải làm thay đổi nó”.

Lê Thị Liên Hoan – Báo Phụ Nữ Xuân Mậu Dần 1998

Phỏng vấn chợ Bến Thành (Phần 1)

* PV: Đầu tiên, theo ngài, cuộc đối thoại của chúng ta nên nghiêng về xu hướng nào?

– Chợ: Xu hướng thẳng thắn. Cá nhân tôi xin tuyên thệ: “Sẽ nói những lời chân thành, chỉ nói những lời chân thành, không nói gì ngoài sự chân thành”.

* So với lich sử 300 năm của TP, ngài còn rất trẻ. Điều đó…

– Là một nhược điểm. Tôi vinh dự đã trở thành biểu tượng của Sài Gòn. Nhưng Sài Gòn đáng ra phải vinh dự hơn nếu như Bến Thành là một công trình văn hóa chứ không phải là một cái chợ.

* Ý ngài nói TP ta thiếu những công trình?

– Đúng vậy. Ít ra là trong quá khứ. Lịch sử kiến trúc đâu phải là sự dàn đều. Nó là một đoạn đường cần đánh dấu bằng những cột mốc di tích có giá trị bằng một di sản.

* Xin ngài nói rõ hơn.

– Rõ hơn là thế này: nhìn lại 300 năm qua, thành phố ta, theo ý riêng tôi, chưa tìm được những biểu tượng có sức nặng. Paris có Nhà thờ Đức Bà, Bảo tàng Louvre, Phnômpênh có Hoàng cung, Bắc Kinh có Tử Cấm Thành, còn chúng ta? Khách ngoại quốc hôm nay thường được đưa tới địa đạo Củ Chi. Rất đáng tự hào, nhưng đấy lại mang một ý nghĩa khác và thời gian cũng quá mới.

* Đã đành chúng ta không nên vừa lòng với tất cả những gì đã qua, nhưng cũng không nên…

– Trách móc chứ gì? Tôi hiểu. Tôi cũng biết rằng dân tộc minh vẫn sinh ra mình, vẫn là duy nhất với mình dù không sinh ra Vạn Lý Trường Thành chẳng hạn. Nhưng, tôi muốn nói: một tỷ phú văn hóa bao giờ cũng bắt đầu bị phá sản từ những đồng xu, phải không ạ?

* Tôi không biết. Tôi không phải tỷ phú.

– Ồ, tất nhiên. Điều ấy nhìn là biết ngay. A, xin lỗi, đọc là biết ngay! Chúng ta đã tiêu xài phung phí rất nhiều những mẩu nhỏ, mà nếu kết lại sẽ thành một mảng to! Chỉ vài mảng như thế cũng thành một công trình. Hãy tưởng tượng có một nhóm du khách tới Sài Gòn và được giới thiệu như sau: thưa quý ông, quý bà, đây là một thành phố 300 năm tuổi. Nó không có cung điện dát vàng, không quảng trường được lát bằng cẩm thạch nhưng mỗi viên gạch, mỗi gốc cây của nó đều giữ nguyên dấu vết của bao nhiêu thế hệ.

* Tuyệt!

– Ừ. Tuyệt hơn khi phải giới thiệu tiếp: quý ông, quý bà hãy lưu ý: nơi có tấm biển câu lạc bộ kia, trước đây đã từng là một quán sách cổ. Khu giải trí này dựng trên nền một ngôi đình xưa, còn quầy rượu nơi tôi và các ông các bà đang ngồi uống tất cả người già trong TP đều nhớ là có một bức tượng sư tử đá được đặt ở đó.

* Ơ, thế bây giờ nó đặt ở đâu?

– Tôi cũng đang định kêu lên đúng câu đó.

* Nhưng thưa ngài, lịch sử không phải chỉ xây bằng gạch hay đá…

– Tôi biết. Lịch sử có thể là đá, là đất, là gỗ, thậm chí cả những truyền thuyết, nhưng lịch sử không phải là ánh trăng, là tia nắng, là một nỗi lòng man mác. Lịch sử rất cụ thể nên đòi hỏi chúng ta phải đối xử với nó rất cụ thể.

Lê Thị Liên Hoan – Báo Phụ Nữ Xuân Mậu Dần 1998

300 năm phụ nữ miền đất mới (Phần 2)

Năm 1698 – tức khi người Việt đã có mặt ở Sài Gòn và Nam Bộ cả trăm năm, số hộ dân lên đến bốn vạn. Năm 1772, tranh chấp chúa Nguyễn – Tây Sơn nổ ra, kéo dài mấy thập niên. Đầu thế kỷ XIX, nền cai trị của nhà Nguyễn mới ổn định dần. Song, cũng chỉ ổn định nửa thế kỷ vì thực dân Pháp đã đến. Thực dân Pháp đến mang hai ý nghĩa: dân tộc bị tấn công và Sài Gòn cùng Nam Bộ sớm tiếp cận với chủ nghĩa tư bản phương Tây.

Chính từ khúc quanh này, môi trường khác xuất hiện, điều kiện phát triển của phụ nữ cũng đổi thay, liên quan đến cả ý thức lẫn kiến thức.

Một trong những người phụ nữ Nam Bộ được biết đến trong bối cảnh này là vợ của Trương Định – giúp chồng trong quân thứ và dám xin mai táng chồng khi chồng bị Pháp tổ chức sát hại. Người phụ nữ thứ hai rất nổi tiếng là con gái của cụ Đồ Chiểu – bà Sương Nguyệt Anh – bình bút một tờ báo hiện đại vào những thập niên đầu thế kỷ XX. Cuối những năm 20 vụ đồng Nọc Nạn xảy ra và những phụ nữ trong gia đình Mười Chức biểu trưng cho khí phách của người nông dân trước nạn cướp giật trắng trợn của địa chủ thực dân, làng lính.

Cuối những năm 20 cách mạng Việt Nam chuyển thế, đấu tranh dân tộc, và đấu tranh xã hội phát triển, hoạt động của giới phụ nữ ở Sài Gòn và các thành thị liên kết thành phong trào mà lực lượng lao động và trí thức tự do làm nòng cốt. Vấn đề bình đẳng nam nữ, quyền lợi phụ nữ được công khai bàn thảo trên báo chí, diễn đàn; riêng báo chí, báo do phụ nữ chủ trương hay chuyên bàn về nữ giới, giữ một chỗ đứng khổ lớn trong ngôn luận. Nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ tên tuổi xuất hiện bên cạnh những trí thức thuộc nhiều ngành khoa học, đặc biệt ngành giáo dục. Xét về luật tiến hóa, đây là giai đoạn diễn tập của phụ nữ trước khi trực tiếp xếp hàng trong đội ngũ đấu tranh yêu nước vốn là đòi hỏi then chốt của lịch sử. Nguyễn Thị Minh Khai là đỉnh cao của một thời kỳ chuẩn bị xung trận. Sau Nguyễn Thị Minh Khai, danh sách các nữ chiến sĩ cách mạng kéo dài và Cách mạng tháng Tám là cơ hội đưa phụ nữ lên vũ đài với tư cách một giới kiên định, một phong trào quần chúng, một lực lượng đủ khả năng gánh vác việc nước, ngay ngoài chiến trận.

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc cùng lúc với phụ nữ Sài Gòn và Nam Bộ đăng quang qua một số chiến công, qua các bá má chiến sĩ, qua một số anh hùng như Võ Thị Sáu, và qua Trần Bội Cơ. Phải chờ đến cuộc đấu tranh chống Mỹ. Trong đối đầu với giặc dữ, phụ nữ Sài Gòn và Nam Bộ nâng phẩm chất của mình lên bình độ thật cao, thành một phong trào hẳn hoi, phong trào “đội quân tóc dài” – thành bộ phận của tất cả các phong trào đánh giặc ở đủ dạng thức, từ công nhân Vimytex, Vinatexco, Pin Con Ó, từ Quách Thị Trang, Nhất Chi Mai đến Lê Thị Riêng, Võ Thị Thắng,… hằng hà sa số, không sao kể xiết. Nhà tù là chiến trường mà nữ giới luôn giương cao ngọn cờ bất khuất. Bao nhiêu nữ biệt động, nữ công an, nữ tình báo – những hành động phảng phất huyền thoại. Rồi những năm đầu sau giải phóng, gay go trăm bề – do khách quan và lý do chủ quan – phụ nữ tiếp nối tinh thần vượt khó đồng thời tự mình đã hé lên trong thực hành những gợi ý đổi mới quý giá.

Ngày nay, khi Sải Gòn thành TP. HCM 23 năm, khi đổi mới được 12 năm, chúng ta kỷ niệm 300 năm Sài Gòn “đăng ký” ngày sinh. Chỉ còn hai năm nữa thôi, thế giới bước vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ III. Vòng quay 300 năm cho phụ nữ chúng ta một toàn cảnh khích lệ. Công bằng mà nói, so với phụ nữ năm châu và trực tiếp hơn, với phụ nữ thuộc ASEAN, chúng ta chẳng kém cạnh gì. Tôi hoàn toàn không đồng ý khi đánh giá sự tụt hậu của chúng ta về kinh tế đối chiếu với khu vực lại gộp chung trong đó vị trí của phụ nữ Việt Nam và phụ nữ TP. HCM.

Mặt nổi trội không ít đâu, bình đẳng nam nữ chẳng hạn, vai trò của phụ nữ trong xã hội, học vấn của phụ nữ, nhất là thực trạng có tổ chức của phụ nữ.

Nếu cần một “đội tuyển” dự một cuộc thi đua về văn minh chung của một nước ở Đông Nam Á – rộng hơn cũng được – tôi xin bầu phụ nữ Việt Nam và phụ nữ TP. HCM.

Ba trăm năm không vô ích đối với một giới là phụ nữ.

Cái gì còn lại thuộc ý thức của xã hội, đảng cầm quyền và chính phủ vì sự nghiêp nâng cao vai trò phụ nữ Việt Nam – chính vì sự nghiệp nâng cao bản thân đất nước Việt Nam.

Trần Bạch Đằng – Báo Phụ Nữ Xuân Mậu Dần 1998

300 năm phụ nữ miền đất mới (Phần 1)

Năm 1998 – Mậu Dần – TP. HCM kỷ niệm 300 năm ngày ra đời. Năm 1898, cũng Mậu Dần, Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh (còn gọi là Kinh) vâng lệnh chúa Nguyễn Phước Chu vào kinh lược xứ Đồng Nai, Sài Gòn, lập dinh Trấn Biên, huyện Phước Long, dinh Phiên Trấn, huyện Tân Bình.

Thực tế, đó là thời điểm hợp thức hóa một vùng đất vốn đã được người Việt đặt chân đến và khai thác cả thế kỷ trước.

Quyết định của Nguyễn Hữu Cảnh chính thức đặt hai vùng ngoại vi và Sài Gòn vào bản đồ Đại Việt (thuộc Đàng Trong) và cũng chính thức tổ chức bộ máy Nhà nước.

Lưu dân người Việt – với nhiều lý do khác nhau mà kiếm sống là lý do chính – từ các tỉnh ven biển Đàng Trong, chủ yếu miền Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn – đi lẻ tẻ từng đoàn gồm người cùng gia tộc, xóm ấp, vượt núi và vượt biển, khai phá rừng rậm thành làng mạc, nương theo đường thủy thâm nhập sâu lưu vực sông Đồng Nai, Sài Gòn. Từ 1098, quy mô thâm nhập lớn hơn, được Nhà nước khuyến khích, bảo trợ. Chùng ta biết, năm 1708, trấn Hà Tiên thành lập, dinh Long Hồ 1732, các đạo Sa Đéc, Tân Châu, Châu Đốc, Kiên Giang, Long Xuyên thành lập năm 1757 và cuối cùng, đạo Trường Đồn (Mỹ Tho) năm 1772. Như vậy, kể từ ngày Nguyễn Hữu Cảnh đặt hệ thống phủ huyện ở Biên Hòa và Sài Gòn năm 1698, triều đình chúa Nguyễn phải cần 72 năm mới xây xong bộ máy cai trị khắp Nam Bộ. Tuy nhiên, công cuộc Nam tiến – hành động của dân – thì đã xong từ lâu.

Lịch sử Nam tiến của ông cha ta liên quan đến nhiều bối cảnh, sự kiện, nhân vật. Tôi muốn nhắc một nhân vật nữ. Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn dựa vào thế lực của chúa Nguyễn để chống lại người Xiêm luôn uy hiếp vương triều Chân Lạp, đã cầu hôn với chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn gả một công chúa (*) cho vua Chetta II. Chuyện xảy ra năm 1620, thời chúa Nguyễn Phước Nguyên. Hoàng hậu người Việt vừa giúp chồng giữ ngôi, vừa gắn kết hai triều đình. Gạt qua một bên ý đồ của chúa Nguyễn, việc một công chúa Việt Nam làm hoàng hậu Chân Lạp nói lên sự đóng góp quan trọng của một phụ nữ Việt Nam đối với công cuộc an cư lạc nghiệp của cộng đồng cư dân trên đất Nam Bộ.

Trong số lưu dân từ Bắc, Trung vào Nam kiếm sống, đương nhiên có nam có nữ. Chúng ta chưa tìm được tài liệu nào đặc tả về những phụ nẽ đầu tiên ấy. Tuy nhiên, sự thành đạt về sau của lưu dân – về kinh tế, về tâm hồn dân tộc, về phẩm chất làm người – hẳn chứng minh vai trò của bà mẹ: hiền, giỏi giang, chịu khổ, chịu khó. Dòng sữa và câu hát ru nối quê cũ với lớp người sinh trên đất mới thành một thể liên tục.

Cho đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta – bắt đầu từ đánh chiếm Sài Gòn và các tỉnh Đông Nam Bộ vào 1859 – 1860 rồi các tỉnh Tây Nam Bộ từ 1667, Iịch sử chưa thấy xuất hiện nữ anh hùng dân tộc trên đất Đồng Nai – Bền Nghé – Cửu Long. Gương nữ trung nổi bật thì có, như Nguyễn Thị Tồn, vợ Bùi Hữu Nghĩa, người dám đánh trống kêu oan cho chồng tại triều đình. Bùi Thị Xuân, một danh tướng Tây Sơn lừng lẫy, tuy quê Đàng Trong song không thuộc vùng mới khai phá. Nữ thi sĩ, như Hồ Xuân Hương, bà huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm càng chưa có cơ hội xuất hiện ở Nam Bộ. Tôi không nhắc bà Từ Dũ bởi bà nhập thân khá sớm vào môi trường hoàng gia.

Tạl vùng mới khai phá, xã hội đang trong quá trình hình thành. Trước năm 1698, xóm ấp sống theo cách tự quản, mối liên hệ giữa các nhóm, cư dân xác lập trên cơ sở tương trợ lẫn nhau. Nói cách khác, đơn vị xã hội là gia đình, gia tộc, chòm xóm, rất ít chịu lề thói phong kiến – trừ mặt đạo nghĩa. Do đó, so với nơi quê cũ, người phụ nữ tự do hơn và về lao động cũng dễ bình đẳng với nam giới hơn.

(*) Sử ta không chép việc trên, song các người nước ngoài viết sử Chân Lạp đều ghi sự kiện năm 1620, vua Chân Lạp Chetta xin cưới một công chúa Việt Nam – đúng hơn, một nữ vương tước (princesse). Các nhà viết sử Việt Nam sau này suy ra có thể là một trong hai công chúa con Nguyễn Phước Nguyên tên Ngọc Khoa hoặc Ngọc Vân.

Trần Bạch Đằng – Báo Phụ Nữ Xuân Mậu Dần 1998

Sổ tay nội trợ (Báo Phụ Nữ thứ Tư – Năm thứ XXIII số 4)

  • Canh cá trê rau răm

Vật liệu:

– 300g cá trê.

– Một nẳm rau răm khoảng 50g.

– Ít hành lá, gia vị.

– 1 trái cà chua lớn, bỏ cuống, rửa sạch, cắt làm tám.

Thực hành:

Cá làm sạch. Dùng phèn chua cục chà qua thân cá cho sạch nhớt hoàn toàn, rửa qua nước lạnh, xát muối lên thân cá, xả sạch lại với nước lạnh, để ráo. Bắc nồi nhỏ lên bếp, cho vào chừng một tô nước lạnh, nấu sôi nêm vào 1/2 muỗng cà phê muối, 1/2 muỗng nhỏ tiêu, thả cá vào luộc chín, vớt ra tắt bếp. Gỡ lấy nạc cá để riêng, cho xương và đầu cá vào lại nồi nước nấu sôi nhỏ lửa trong khoảng 9 phút, lược nước qua rây, bỏ xương và đầu cá.

Xào nạc cá với chút dầu chiên và hành lá băm nhuyễn, nêm vào chút muối, tiêu, bột ngọt. Rau răm lặt rửa sạch, cắt nhỏ với chút hành lá. Bắc nồi nước luộc cá cho sôi lại, thả cà chua vào, cà chua vừa mềm cho nạc cá đã xào, rau răm, hành vào, nước sôi lại, tùy khẩu vị nêm lại, tắt bếp.

Yêu cầu:

Theo cách này, 300g cá trê còn có thể nấu với: 200g bầu cắt sợi, nêm hành ngò. Hoặc 300g cà bát, cắt miếng rửa với nước có pha loãng muối, nêm rau thơm, hành ngò. Mỗi loại quả và rau thơm khác nhau sẽ cho chúng ta những món canh có mùi vị khác nhau, tiện thay đổi thực đơn trong tuần.

  • Tư vấn gia chánh

Hỏi: Tôi mua đũa mun được bảo đảm là đũa thật, nhưng càng dùng thấy giống như bị mốc trắng. Tại sao? Đũa mun có gì quý mà được bịt bạc?

Mai Chính Văn (Trần Phú, Vũng Tàu)

Trả lời: Dùng đũa mun phải tốn công và… kỹ. Nếu mun chính phẩm loại 1 (nặng, chắc, đen bóng) thì ngay từ đầu, không bao giờ đem cất khi đũa còn ẩm ướt. Ngay sau khi ăn, rửa đũa cho sạch và lau kỹ bằng vải mềm cho đến khi đũa bóng lên mới cất, và không cất chung với đồ dùng bị ẩm ướt. Đũa mun bền và sạch nếu bảo quản đúng.

Hỏi: Ở TP. HCM, ở đâu có bán cật gà trống số lượng nhiều? Làm cách nào đem về tỉnh bằng máy bay cho còn tươi? Bày biện cật gà trông lên mâm kèm cháo gà cách nào cho có vẻ lịch sự?

Cẩm Nga (Lê Duẩn, Đà Nẵng)

Trả lời: Chợ An Đông có bán loại thực phẩm trên. Bạn cần rửa sạch, để ráo, tẩm ướp, làm đông trong ngăn đá tủ lạnh qua đêm, hôm sau có thể mang cho vào hộp nhựa đậy kín, theo chuyến bay về tỉnh. Dọn cháo trong thố, đặt lên bếp gas du lịch, cho từng cặp cật gà vào và trụng cho chín tái trong nước cháo sôi (cật gà chín rất nhanh) rồi cho vào chén mỗi thực khách, mời thưởng thức trước khi ăn cháo.

Cẩm Tuyết – Báo Phụ Nữ thứ Tư – Năm thứ XXIII số 4 (14-1-1998)

Câu chuyện giáo dục: Cuốn phim xưa

Cu Tốp có tật hay xé giấy để chơi. Sách vở vừa học xong là Tốp xé làm tàu bay, làm thuyền. Không ngày nào là Tốp không xé giấy để xếp một vật gì đó. Mẹ vẫn mắng Tốp vì tội xé giấy bừa bãi; nhưng cu cậu vẫn chứng nào tật ấy. Hết vở của mình, Tốp lại lén lấy vở của chị Thư, sách của bố mẹ… Một buổi chiều, mẹ Tốp bảo:

– Mẹ về thăm bà đây, con có muốn đi không?

Cu Tốp nhảy lên mừng rỡ:

– Vâng ạ! Con thích lắm.

Ngang qua chợ, chị Tú dừng lại vào mua gói long não. Tốp tò mò hỏi mẹ:

– Về thăm bà sao mẹ lại mua thứ này?

Chi Tú mỉm cười:

– Rồi con sẽ biết.

Về ngoại, cu Tốp được mẹ dẫn vào một căn phòng nhỏ. Trước sự ngạc nhiên cúa Tốp, chị Tú mở cái tủ to đã cũ. Cu Tốp tò mò theo dõi việc làm của mẹ, cánh tủ đuợc mở rộng, cu Tốp thấy các ngăn đều chất đầy sách vở. Nó xịu mặt: “Tưởng gì…”.

Chị Tú lấy gói long não ra bỏ vào các góc, cẩn thận bê từng chồng vở ra xem. Chị nói với Tốp:

– Bà ngoại đã dành cho mẹ cái tủ này để đựng tất cả sách vở của mẹ suốt thời gian đi học. Con biết tại sao mẹ qúy và giữ gìn cẩn thận chúng cho đến bây giờ không?

Lấy một tập vở có bìa tim tím. Chị nhẹ nhàng lật từng trang:

– Khi nhìn vào những dòng chữ này, me lại nhớ đến những ngày học lớp một, chữ mẹ xấu, cô giáo phải cầm tay sửa hoài – Lật qua quyển khác chị kể – Còn đây là bài toán mẹ bị điểm 1 vì ham chơi, về nhà bị ngoại phạt quỳ suốt buổi. Đây là điểm 10 bài văn. Mỗi một dòng chữ, môt bài học trong những quyển vở này như những thước phim về tuổi học trò của mẹ. Chỉ cần mẹ giở ra một trang sách, một quyển vở là những hình ảnh ngày ấy với thầy cô, bạn bè lại hiện ra trước mắt. Do đó mẹ quý chúng lắm Tốp ạ!

Cu Tốp chớp chớp mắt:

– Thật hở mẹ?

– Thật chứ! Sở dĩ con không thấy vì con đã xé, đã vất bỏ chúng mà thôi.

– Thế giờ con bắt đầu có muộn không hở mẹ?

Chị Tú âu yếm xoa đầu Tốp:

– Không muộn đâu con ạ! Mẹ sẽ giúp con lưu giữ “cuốn phim” của mình thật tốt.

Phương Hiền – Báo Phụ Nữ thứ Tư – Năm thứ XXIII số 4 (14-1-1998)

Từ chợ đến cửa hàng (Báo Phụ Nữ thứ Tư – Năm thứ XXIII số 4)

  • Chợ Cầu Ông Lãnh: Ngày 12/1 (14 tháng Chạp âm lịch) cá biển về chợ 35 tấn, đa phần là cá sô; cá đồng về chợ 4 tấn; đa số là lóc đen, lóc bông loại nhỏ, ngày chay nên giá cá sụt 2.000đ – 3.000đ/kg. Chủ các vựa cho biết chợ sẽ ế đến ngày 20 Tết, sau ngày này cá lóc đen, lóc bông loại lớn mới về chợ. Cá biển sẽ tiếp tục ế đến Tết vì xu hướng không mua cá biển dự trữ của người tiêu dùng.
  • Chợ An Đông: Quần jeans, giày dèp bán chạy. Áo gió năm nay “chết”, thương lái Hà Nội trả lại hàng cho tiểu thương chợ. Các mặt hàng bánh mứt kẹo, thực phẩm khô vẫn bán chậm. Ban quản lý đề nghị Chi cục thuế Q.5 chưa nên tăng thuế chợ trong quý 1/98. Khu tầng hầm trệt, tầng một và tầng hai kéo dài giờ mở cửa đến 19g tối để tiểu thương phục vụ Tết. Sau Tết, chợ mở cửa ngày mùng 10 Tết do phải quét vôi, chỉnh trang lại để chào mừng Sài Gòn 300 tuổi.
  • Chợ Bình Tây: Mứt bắt đầu bán mạnh, nhích lên 1.000đ -1.500đ/kg. Thương lái Hà Nội đã vào đóng hàng, sức mua tăng hơn trước. Ước tính mức thu thuế của chợ năm 1997 chỉ đạt hơn 77% so chỉ tiêu, và nhiều hơn mức thu năm 1996 hai tỷ đồng. Ngoài những kiosque có sẵn, không có thêm các gian hàng Tết trước cửa chợ như năm trước.
  • Chợ Cầu Muối; Lượng kiệu do về nhiều đến mức dội chợ. Giá sỉ tại vựa bà Hai Xê (số 50 – 52) chỉ có 1.000đ/kg, một ngày vô trên 10 xe (7 tấn/xe). Thương lái lỗ mà vựa cũng lo. Nhiều hộ bán lẻ kêu giá kiệu chỉ có 3.000đ/kg, loại đã được lặt sơ. Củ hành hiếm chỉ về chợ 7 – 8 tấn/ngày, do đất các tỉnh miền Tây còn ngập nước, giá sỉ 4.000đ/kg, bán lẻ 5.000đ – 6.000đ/kg. Trái cây khác về chợ 80 tấn/ngày, nhiều nhất là bôm (táo) TQ, kế đó nhãn giá sỉ chỉ hơn 2.000đ/kg.
  • Chợ Mai Xuân Thưởng (Q.6): Vú sữa về 30 tấn/ngày, giá 120.000đ/cây (100 trái). Vú sữa loại lớn ít, giá sỉ đã lên đến 20.000đ – 25.000đ/chục. Nhãn về chợ 10 tấn/ngày, giá sỉ 3.000đ – 4.000đ/kg, quýt vàng về chợ 14 tấn/ngày, giá sỉ 2.500đ – 3.500đ/kg. Xoài hầu như không có hàng. Ban quản lý tại hai chợ đầu cầu đều nhận xét: “Sức mua đến nay còn rất chậm, chỉ sau ngày 15 tháng Chạp (âm lịch) mới đánh giá đúng được. Có năm tưởng hàng thừa mà lại thiếu, năm nay cũng vậy, giờ chót mới biết loại hàng nào hút, loại hàng nào thừa…
  • Đường phố, cửa hàng: Siêu thị Tenimex đường CMTT – góc Ba Tháng Hai đang gấp rút hoàn thành việc xây dựng để chuyển dời Minimart Q.10 từ đường Ngô Gia Tự về Sunimart đường Tôn Thất Thiệp Q.1 đã đóng cửa nhường chỗ cho trạm bảo hành Samsung. Saigon Co-op đã tổ chức liên hoan với hơn 300 khách hàng thân thiết lần thứ 3, trở thành đơn vị quốc doanh dẫn đầu về hoạt động tiếp thị trong các siêu thị.

T.T.

Thiên Thanh – Báo Phụ Nữ thứ Tư – Năm thứ XXIII số 4 (14-1-1998)

Cây si… trên từng cây số (Phần 2)

Tuổi thọ “cây si”

Giữa năm 97, tòa án TP đã xử một vụ thuận tình ly hôn mà người đến dự phiên tòa khá đông, và người trong cuộc là ngôi sao cải lương N.H. Người chồng đồng đứng đơn, trước đây vốn là một trong những cây si của N.H. Hàng đêm, anh luôn đón cô trước rạp hát với bó hồng trên tay. Ròng rã đeo bám mấy năm trời, cây si mới lay động được trái tim người đẹp. Nhưng chỉ sau một thời gian chung sống ngắn ngủi, sự đắm đuối ban đầu biến mất, điều bây giờ anh ta cần thật sự là một người vợ để chăm sóc gia đình hơn là một người đẹp để si mê. Cuộc chia tay buồn, nhưng không luyến tiếc, dù khi gặp nàng trước đây anh đã tự nhủ: “Sống không có cô ấy, thà chết còn hơn”.

Kết cục của sự si mê, không chỉ dừng lại ở sự chia tay. Cuối năm 96, một vụ tạt axit đã làm kinh động đất Thần kinh (Huế). Nạn nhân, cô sinh viên D.L., Trường ĐH Sư phạm Huế được chuyển vào BV Chợ Rẫy với khuôn mặt loang lổ cháy đen, hư một mắt. Thủ phạm là cây si Nguyễn Văn Lân, bạn học cùng trường. Theo đuổi D.L. từ những năm học cấp II, đến khi biết chắc mình không còn có tên trong trái tim cô gái, Lân quyết định: “tiêu huty sắc đẹp của D.L.”. Ra công an đầu thú, Lân vẫn còn trơ tráo: “Bây giờ, chẳng ai muốn lấy cô ấy, ra tù tôi sẽ cưới…”.

Không phải cây si nào cũng công cốc. Chị Bích Hà giảng viên Trường Điện ảnh TP nói vui: “Cách đây 17 năm, lúc tôi đang học ở Liên Xô, trước phòng tôi một “cây si” mọc lên giữa trời tuyết lạnh. Bây giờ “cây si” đã chễm chệ ngồi trong nhà, mà tôi còn có nhiệm vụ chăm sóc, giữ gìn”.

Theo thạc sĩ tâm lý Phạm Ánh Hòa (Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn TP. HCM): “Những cây si thành công, ngoài trái tim tràn ngập lòng say mê, còn có sự kiểm soát chặt chẽ của cái đầu (điều mà phần lớn các cây si ít có), có một sự khác biệt rất lớn giữa tình yêu và sự si mê. Si mê thường mù quáng, chỉ nhìn thấy mặt tốt của người được si; hoặc đôi khi vì quá si, họ tự tô vẽ thêm cho đối tượng những vòng hào quang không có thực. Để khi tỉnh mộng, đối diện với thực tế, “si” thường bị vỡ mộng, lắm khi quay ngoắt 180° với người trước đây mình từng si mê. Trong khi đó, đối với người có một tình yêu đích thực, họ rất sáng suốt khi nhận định về người mình yêu. Tình yêu của họ là một sự kết hợp hài hòa giữa con tim và khối óc. Vì thế khi gặp dông bão giữa cuộc đời, tình yêu đó vẫn không phai nhạt. Nói tóm lại, si là một dạng “mê” nhất thời. Vì thế, khi yêu hay lấy người trồng cây si, thì bạn nên giúp cho anh (chị) ta, “tỉnh” dần, biến mối tình nồng nàn, có phần hơi… mê muội ấy thành một mối tình đằm thắm, bền vững hơn”.

Về phía người được si, Hoa hậu Hà Kiều Anh còn đưa ra một kinh nghiệm: “Cũng nên đối xử tế nhị, khéo léo, có văn hóa với từng cây si, tùy loại “si” mà xử lý hoặc chuyển thành tình bạn, hoặc nói lời “vĩnh biệt”. Từ chối một cây si không mấy gian nan, yêu và được yêu tha thiết mới khó”.

Trường Sơn – Báo Phụ Nữ thứ Tư – Năm thứ XXIII số 4 (14-1-1998)