Chuyển biến của ngành dệt – may Việt Nam giai đoạn 1998-2000

Sáng 30/12, Liên bộ Thương mại, Công nghiệp và Kế hoạch Đầu tư đã tổ chức họp báo về việc phân bố hạn ngạch hàng dệt may vào thị trường EU, Thổ Nhĩ Kỹ và Canada trong giai đoạn 1998 – 2000.

Ông Mai Văn Dậu, Thứ trưởng Bộ Thượng mại cho biết: “Hiệp định ký kết lần này so với Hiệp định lần 1 (từ 1992 – 1997) đạt được nhiều điểm tiến bộ. Cụ thể, mức hạn ngạch tăng lên và có chủng loại hàng tăng đến 40% – 50%. EU cũng đã yêu cầu chúng ta phải cung cấp quy chế phân bố hạn ngach với số liệu cụ thể cho Ủy ban EU. Việt Nam phải có chính sách giảm thuế cho các sản phẩm dệt – may nhập khẩu từ EU. Các xí nghiệp liên doanh hoặc có vốn đầu tư 100% có nguồn gốc từ các quốc gia thuộc EU được ưu tiên đưa sản phẩm vào thị trường VN, sau khi đã thực hiện xong tỷ lệ xuất khẩu ra nước ngoài”.

Đánh giá về mức hạn ngạch đã được ký kết trong Hiệp định 1998-2000, ông Dậu nói: “Dù có sự tăng trưởng trong mức hạn ngạch được phân bố, nhưng mức hạn ngạch này vấn chỉ đạt khoảng 50% năng lực sản xuất của các doanh nghiệp (DN) dệt – may trong nước. Do đó các DN cần phải tích cực tìm kiếm đầu ra ở các thị trường phi quota, để đảm bảo việc làm ổn định cho người lao động”.

Tuy nhiên, với cách phân bố hạn ngạch dựa trên mức thực hiện hạn ngạch mà DN đã thực hiện được trong năm 1997, đã có ý kiến cho rằng cách làm này chưa thật xác đáng. Bởi trong thời gian qua, có nhiều DN do cách làm năng động đã nhận mức hạn ngạch phân bố khả “khiêm tốn”, vì họ chủ yếu chỉ tập trung vào thị trường phi quota. Trong tình hình khủng hoảng tài chính ở châu Á hiện nay, các DN này khó có khả năng duy trì được đầu ra sản phẩm. Và nếu họ chỉ được phân bổ hạn ngạch như cách làm trên thì chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn.

Trước vấn đề này, ông Lê Huy Côn, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp đã trả lời: “Năm 1996, thị trường Nhật Bản đã chiếm gần 50% trong xuất khẩu hàng dệt – may của các DN Việt Nam. Cuộc khủng hoảng tài chính ờ Nhật hiện nay có thể sẽ gây ảnh hưởng đến sản xuất của những DN trong nước có đầu ra sản phẩm tập trung vào thị trường Nhật. Do đó, chúng tôi sẽ quan tâm hơn để giúp đỡ cho các DN này bằng cách dành lỷ lệ 5% hạn ngach đã ký trong Hiệp định từ 1998-2000 để thưởng cho những DN thực hiện tốt việc đưa sản phẩm ra các thị trường phi quota. Đây là lần đầu tiên biện pháp thưởng này được áp dụng để khuyến khích các DN dệt – may trong nước năng động hơn nữa trong việc tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường”.

Ông Nguyễn Xuân Quang, Thứ trưởng Sở Thương mại nói thêm: “Sau hiệp định đã ký với EU, chúng tôi đang cố gắng đẩy mạnh việc đàm phán hiệp định thương mại giữa VN và Mỹ. Nếu việc ký kết sớm hoàn thành sẽ tạo một bước đột phá quan trọng cho ngành dệt may VN. Vì dệt – may là một trong những nội dung đầu tiên của hiệp định thương mại này thị trường Nhật Bản là một thị trường cực kỳ khó tính, nhưng trong những năm qua nhiều DN dệt – may VN đã vào và đứng vững được. Điều này cho thấy các DN dệt – may VN đủ năng lực để có thể đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thị trường Mỹ.

Nếu so với Thái Lan, quốc gia có kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt 4,5 tỷ USD/năm, tôi có thể nói công nghệ dệt may của Thái Lan lạc hậu hơn của VN. Thái Lan đang đầu tư gần 1 tỷ USD cho việc đổi mới công nghệ, thiết bị trong lĩnh vực dệt – may. Và qua các cơ quan thông tin, tôi cũng muốn báo động tình trạng đã xuất hiện việc dỡ nhà máy ở Thái Lan để đem sang hợp tác với các DN Việt Nam. Vấn đề này cần được kiểm soát chặt chẽ, nếu không các DN dệt – may trong nước sẽ chính mình làm lạc hậu mình vì những thiết bị lạc hậu kia”.

Không khí lạc quan đã bắt đầu xuất hiện trong ngành dệt – may VN. Thậm chí một quan chức ở Bộ Thương mại đã nói: “Hiện giờ, dệt – may đang xếp thứ hai sau dầu khí. Nhưng với kim ngạch xuất nhập khẩu dự kiến từ 1,8 – 1,9 tỷ USD, ngành dệt – may có nhiều khả năng vượt qua ngành dầu khí.

Hoàng Vũ – Báo Phụ Nữ thứ Tư – Năm thứ XXIII số 2 (7-1-1998)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bạn có thể sử dụng các thẻ HTML và thuộc tính sau: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>