Phương pháp điều trị bệnh chửa ngoài dạ con

Nếu lượng HCG tăng quá 25% so với trước thủ thuật, chứng tỏ thủ thuật chưa hoàn chỉnh và phải tùy theo tình hình bệnh nhân mà tiến hành soi ổ bụng và phối hợp Laser CO2 lại hoặc có thể dùng bổ sung thêm thuốc. Tuy nhiên với phương pháp điều trị bảo tồn bằng nội soi và Laser CO2, nếu như kết quả đã tránh cho bệnh nhân khỏi phải mổ, bảo toàn được chức năng sinh đẻ cho từ 40 đến 70% bệnh nhân thì tỷ lệ có thai và chửa ngoài tử cung lại còn chiếm từ 12 đến 28%.
Phương pháp sử dụng thuốc để điều trị chửa ngoài dạ con có hai cách, hoặc thuốc tiêm như Feichtinga lần đầu tiên tiến hành năm 1987 ; dưới soi ổ bụng người ta tiêm ngay trên bọc thai dẫn xuất của Prosta gandine – Méthotrexate và thanh huyết ngọt mà theo dõi trên 123 bệnh nhân chửa ngoài dạ con được điều trị bằng phương pháp đó, vòi trứng được bảo tồn là 90%, số muốn có thai là 58 người trong đó có 34 người đã đạt được nguyện vọng có thai trong tử cung nhưng chỉ 28 người có con, và có 3 trường hợp chửa ngoài dạ con.
Còn phương pháp điều trị bằng thuốc uống Méthotrexate hay Méthotrexate phối hợp với Ru486, thậm chí không điều trị mà chỉ theo dõi bằng đo lường tỷ lệ HCG như Ylastal và cộng sự đã tiến hành từ năm 1990 trên 318 chửa ngoài dạ con, trong đó điều kiện lựa chọn bệnh nhân với tỷ lệ HCG từ 1000 đơn vị quốc tế trở xuống thì hiện nay đang nghiên cứu trong các điều kiện rất sít sao.
Trong điều kiện trang bị kỹ thuật hiện nay ở Việt Nam chỉ riêng từng chị em phụ nữ, hiểu được các triệu chứng của bệnh như có thai, ra máu bất thường, đau bụng thì nên đi bệnh viện để phát hiện ngay để kịp thời được điều trị tránh trường hợp phải để đến vỡ bọc thai, chảy máu trong ổ bụng đến tụt huyết áp mới đến thì cũng là điều không tốt. Các phương pháp điều trị chửa ngoài dạ con, nếu có trang bị thì cán bộ sản phụ khoa Việt Nam vẫn có thể tiến hành được ngay, chứ không phải vấn đề gì cao xa quá mà không với tới được. Để kết luận tôi thấy, để bảo vệ được sức khỏe cho phụ nữ Việt Nam ngày nay là công việc của mỗi người, mỗi ngành có liên quan, chứ không phải chỉ là công việc riêng của người cán bộ sản phụ khoa. Nhưng nếu mỗi chị em không tự nâng cao trình độ hiểu biết của mình, người bệnh nhân cũng như người thầy thuốc, người làm công tác quản lý, cũng như người hoạch định các chủ trương chính sách thì bao giờ chúng ta mới tiến kịp với thế giới ?
GS Nguyễn Ngọc Toản – Báo Thế Giới Phụ Nữ – Phụ Nữ Việt Nam – Hà Nội – Số 30 – 1997

Chửa ngoài dạ con – những điều nên biết

Chửa ngoài dạ con là một loại bệnh, nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời thì có thể xảy ra biến chứng chảy máu ồ ạt trong bụng, do vỡ bọc thai dẫn đến chết. Ngày nay với các tiến bộ kỹ thuật, người ta có thể chẩn đoán sớm cho phụ nữ để tránh được các biến chứng đó ; không những bảo vệ được tính mạng mà còn bảo vệ được toàn vẹn vòi trứng để tránh biến chứng vô sinh sau này. Nhưng theo nhiều tổng kết, muốn thay đổi được tiên lượng của bệnh, chỉ với các tiến bộ kỹ thuật của y học vẫn chưa đủ, mà còn phải làm cho người bệnh hiểu biết được cơ chế với các biểu hiện để cùng phối hợp. Trước đây cứ 300 người có thai mới có một người bị chửa ngoài dạ con. Nhưng ngày nay xu hướng đó có tăng lên, chỉ trên 125 người có thai, đã có một người chửa ngoài dạ con. Nguyên nhân tăng tỷ lệ chửa ngoài dạ con được nêu lên là do tình hình viêm nhiễm do các dụng cụ đặt trong tử cung, do các kỹ thuật tạo hình vòi trứng được triển khai rộng rãi hơn ở các nước. Khi nào người bệnh cần nghĩ đến chửa ngoài dạ con ? Rất đơn giản : Là chậm kinh, dù chỉ chậm kinh vài ngày nhưng thấy ra vài giọt máu thì phải đi khám bệnh ngay. Có khi chưa chậm kinh làm cho chị em không nghĩ mình có thai, nhưng thấy ra máu sớm hơn bình thường, lại kèm theo đau bụng thì cũng phải nghĩ đến có thai do chửa ngoài dạ con. Vì vậy, để tránh những nhầm lẫn chị em nên nhớ rằng : Nếu có sinh hoạt tình dục trong tháng, mà thấy ra máu sớm hơn hoặc chậm hơn so với ngày kinh bình thường, thì cũng phải nghĩ đến chửa ngoài dạ con. Triệu chứng thứ hai, là đau bụng. Bụng có thể đau âm ỉ, có thể đau dữ dội làm cho người ta tưởng nhầm đến đau bụng của viêm ruột thừa, và để tránh mổ sai vị trí, kinh nghiệm cho thấy trước khi mổ ruột thừa do viêm cho những người phụ nữ đang ở lứa tuổi có hoạt động tình dục, nên khám phụ khoa để loại trừ chửa ngoài dạ con. Ngày nay do lối sinh hoạt thay đổi, rất nhiều người có quan hệ tình dục trước hôn nhân, cho nên nếu người thầy thuốc không cảnh giác, và người bệnh giấu hiện tượng có thai thì cũng khó phát hiện. Cũng may là để bù lại chúng ta đã có những biện pháp kỹ thuật để dễ dàng chẩn đoán sớm chửa ngoài dạ con. Các biện pháp đó là gì vậy ? Hai kỹ thuật sau đây có thể giúp con người ta chẩn đoán sớm chửa ngoài dạ con.
GS Nguyễn Ngọc Toản – Báo Thế Giới Phụ Nữ – Phụ Nữ Việt Nam – Hà Nội – Số 30 – 1997

Cuộc sống của hộ nghèo nông thôn

Một số hộ do nợ đọng HTX nên bị rút ruộng, họ buộc phải vay tiền để trả HTX thậm chí vay với lãi suất cao để nhận lại ruộng, khiến lãi mẹ đẻ lãi con không sao trả nổi cả gốc lẫn lãi, nghèo túng đã ập đến họ, mức sống ngày càng giảm sút qua các năm.
Một số hộ có đời sống khá lên là do có vốn hoặc có sức lao động tốt. Mức sống càng kém thì vốn đầu tư cho sản xuất càng ít, vì vậy thiếu vốn là nguyên nhân chủ yếu làm cho đời sống các hộ gia đình thiếu ăn và ngày càng nghèo đói. Hiện nay, với những hình thức cho vay thích hợp, ngân hàng cũng đã đến được với các gia đình nghèo đói. Có 34,8% số hộ thiếu ăn đã được vay tiền từ ngân hàng. Quỹ xóa đói giảm nghèo cũng đã hoạt động nhưng cũng mới chỉ có 1,5% số hộ thiếu ăn và 4,6% số hộ nghèo đói được vay từ quỹ này.
Các hộ gia đình phụ nữ nghèo đang cần gì ?
Trước hết là nhu cầu vay vốn. Có tới 92% số hộ nghèo đói và 90% số hộ thiếu ăn khi được hỏi : “Nhà nước hiện nay cần hỗ trợ gì cho các gia đình nghèo”, đã trả lời : “Cần cho vay vốn”, mà không có ai yêu cầu xóa nợ cũ ! Các hộ gia đình càng nghèo thì cơ hội vay vốn càng lớn. Tuyệt đại đa số phụ nữ nông thôn từ khá giả đến nghèo túng đều khẳng định vốn là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất đối với việc phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề. Vấn đề ở đây là giúp cho người nghèo cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn, giúp họ có kiến thức để sử dụng có hiệu quả đồng vốn, tạo được cuộc sống ổn định.
Nhu cầu thứ hai là các kiến thức KHKT. Người nông dân hiện nay cũng thấy tầm quan trọng của các yếu tố này, nhưng được tiếp cận với các thông tin KHKT còn rất hạn chế. Chỉ có 6% trong tổng số 400 phụ nữ nghèo nông thôn được hỏi : “Đã qua một lớp kỹ thuật nông nghiệp nào chưa ?”, trả lời : “Có”. Các chị chủ yếu cấy lúa, trồng màu, chăn nuôi bằng cách tự học là chính. Vì vậy đã nhiều chị tỏ ra lúng túng và thụ động khi gặp khó khăn, chẳng hạn khi lúa bị sâu phá thì không biết là loại sâu gì và phải dùng loại thuốc trừ sâu nào cho thích hợp ; khi lợn ốm thì khó mời cán bộ thú y đến chữa vì cả xã chỉ có một cán bộ thú y mà đường sá đi lại khó khăn…
Nguyễn Phương Thảo – Báo Thế Giới Phụ Nữ – Phụ Nữ Việt Nam – Hà Nội – Số 30 – 1997